1 Định nghĩa

Bệnh gai đen týp 1 là lành tính có tính chất di truyền - nhóm này không kèm xáo trộn về nội tiết, thường tăng lên trong lúc dậy thì và sẽ thoái lui dần theo thời gian.

Týp 2 bệnh gai đen lành tính nhưng đi kèm với những xáo trộn về nội tiết như, kháng insuline, tiểu đường kháng insuline, trạng thái cường androgen, bệnh Cushing, bệnh to đầu chi hoặc khổng lồ, bệnh Addison, nhược giáp.

Týp 3 là bệnh giả gai đen - đi kèm với béo phì và sự thay đổi của trạng thái béo phì sẽ song hành với diễn biến của gai đen. Càng béo phì, gai đen xuất hiện càng nhiều. Khi kiểm soát được cân nặng, gai đen sẽ giảm.  

Týp 4 là bệnh gai đen do thuốc - việc dùng các thuốc như acid nicotinic liều cao, stilbestrol ở những người đàn ông trẻ, thuốc uống ngừa thai, trị liệu với hormone tăng trưởng, với corticoid... cũng gây ra biểu hiện gai đen. Ở thể này, việc ngưng các thuốc trên sẽ là giải pháp trị liệu chính.  

Týp 5 là bệnh gai đen ác tính - lúc này gai đen được xem là báo trước cho một khối u ác tính nào đó đã hiện diện trong cơ thể người bệnh, thường là carcinome đường dạ dày - ruột hoặc niệu -sinh dục hoặc ít gặp hơn như là u lympho. Việc điều trị khối u ác tính là cấp thiết, mang tính chất sống còn và nếu khối u được loại bỏ, bệnh gai đen ở da sẽ cải thiện.

2 Các triệu chứng

 Là các u nhú da màu nâu đến xám đen, dày, ở các vùng gấp ở da, phân bố thường đối xứng.

 Vùng da giáp ranh bên ngoài tổn thương mượt như nhung, vùng da thương tổn xám hoặc đen.

Vị trí: Ở một số trường hợp, bề mặt niêm mạc miệng, thực quản, hầu, thanh quản, kết mạc, niêm mạc hậu môn-trực tràng cũng thấy có tổn thương. Tuy nhiên, mặt sau cổ là vùng thường gặp nhất và ảnh hưởng nặng nhất. Sự phát triển chồng lên của nhiều u nhú trên vùng tổn thương cũng đã được mô tả. 

Trong trường hợp điển hình như tổn thương vùng lưng bàn tay phía trên các xương bàn tay và trên lòng bàn tay có thể thấy “lòng bàn tay bao tử bò” những trường hợp này thường liên quan với bệnh ác tính. 

Trong đa số trường hợp, dấu hiệu chẩn đoán quan trọng bệnh gai đen thường liên quan với tăng insulin máu (yếu tố nguy cơ tiểu đường type 2).

3 Phương pháp điều trị 

Thường không hiệu quả. Điều trị tại chỗ bằng Calcipotriol, Salicylic acid, Urea và Retinoids tại chỗ hoặc toàn thân thường chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng. Khi đã xác định, việc điều trị bệnh lý căn nguyên bên dưới có thể cần thiết. Sự cải thiện hoặc lành bệnh xảy ra khi giảm cân gặp ở một số bệnh nhân béo phì. Các dược phẩm làm cải thiện sự nhạy cảm insulin, như Metformin.  

Ở bệnh nhân bệnh gai đen có liên quan bệnh lý ác tính, bệnh thường cải thiện khi điều trị bệnh ác tính. Bệnh ác tính phối hợp thường là u có nguồn gốc trong ổ bụng, như dạ dày. Đã có những bệnh nhân cải thiện bệnh ở da với hóa trị liệu và giảm các đợt tái phát.